Cập nhật ngày 23/6/2026 — Thị trường sản phẩm chăn nuôi trong nước tuần này tiếp tục cho thấy sự phân hóa rõ giữa các vùng. Heo hơi miền Bắc vẫn giữ mặt bằng cao nhất cả nước, trong khi miền Nam chịu áp lực giảm sâu hơn. Nhóm gia cầm chưa thoát khỏi tình trạng cung nhiều hơn cầu, đặc biệt là gà công nghiệp và trứng gà tại miền Nam. Ở mảng thủy sản, cá tra và tôm thẻ vẫn có đầu ra xuất khẩu nhưng giá nguyên liệu đang chịu sức ép từ nhu cầu quốc tế và cạnh tranh nhập khẩu.

Heo hơi: miền Bắc giữ giá tốt, miền Nam thấp nhất cả nước
Giá heo hơi cả nước ngày 23/6 dao động khoảng 62.000 – 68.000 đồng/kg. Miền Bắc tiếp tục là vùng giá cao nhất, phổ biến 67.000 – 68.000 đồng/kg; trong đó Quảng Ninh và Sơn La tăng nhẹ 1.000 đồng/kg lên 68.000 đồng/kg. Miền Trung – Tây Nguyên đi ngang trong vùng 63.000 – 67.000 đồng/kg, còn miền Nam chỉ còn 62.000 – 63.000 đồng/kg, thấp nhất cả nước.
Tại miền Bắc, các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Phú Thọ, Sơn La, Hưng Yên đang quanh mức 68.000 đồng/kg. Nhóm Thái Nguyên, Lạng Sơn, Lào Cai, Ninh Bình, Điện Biên phổ biến 67.000 đồng/kg. Đây vẫn là vùng có biên lợi nhuận tốt hơn nếu so với miền Nam, nhờ mặt bằng giá cao và nguồn cung không dư thừa quá mạnh.
Tại miền Trung – Tây Nguyên, Thanh Hóa giữ mức cao nhất khu vực khoảng 67.000 đồng/kg, Nghệ An khoảng 66.000 đồng/kg, Hà Tĩnh khoảng 65.000 đồng/kg. Các tỉnh từ Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng chủ yếu quanh 63.000 đồng/kg. Khu vực này đang ở trạng thái “lưng chừng”: không yếu như miền Nam nhưng cũng chưa đủ lực để kéo giá lên theo miền Bắc.
Tại miền Nam, Đồng Nai và TP.HCM ghi nhận khoảng 63.000 đồng/kg, còn Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau, Vĩnh Long, Cần Thơ quanh 62.000 đồng/kg. Chênh lệch giữa miền Bắc và miền Nam hiện lên tới khoảng 5.000 – 6.000 đồng/kg, phản ánh áp lực nguồn cung tại phía Nam vẫn lớn trong khi sức mua chưa thật sự bật lên.
Gia cầm: gà công nghiệp yếu, vịt đỡ hơn, trứng còn áp lực
Nhóm gia cầm vẫn là điểm yếu của thị trường chăn nuôi. Dữ liệu tổng hợp từ GreenFeed quanh giữa tháng 6 cho thấy giá gia cầm miền Bắc đã giảm ở nhiều nhóm: gà lông màu, vịt thịt và trứng đều có biến động giảm hoặc chỉ phục hồi nhẹ theo từng vùng; riêng gà Ri và gà Mía miền Bắc trong ngày 10/6 đã giảm về quanh 43.000 – 48.000 đồng/kg tùy loại.
Ở miền Bắc, gà lông màu vẫn có sức chống chịu tốt hơn gà trắng nhờ nhu cầu tiêu dùng truyền thống. Giá vịt thịt miền Bắc cũng khá hơn mặt bằng miền Nam do cung không quá dư và nhu cầu tại chợ đầu mối còn tương đối ổn. Một số nguồn theo dõi thị trường gia cầm cho thấy vịt thịt tại miền Bắc có thể duy trì vùng giá cao hơn miền Nam, trong khi gà công nghiệp vẫn bán chậm.
Ở miền Nam, gà trắng công nghiệp tiếp tục chịu áp lực nặng hơn. Nguồn tin thị trường và dữ liệu tham khảo cho thấy gà công nghiệp miền Nam từng phổ biến quanh 25.000 – 30.000 đồng/kg, tức sát hoặc dưới giá thành của nhiều hộ nuôi. Đây là vùng rủi ro nhất vì sản lượng tập trung lớn, cạnh tranh mạnh từ các trại quy mô lớn và khả năng điều tiết cung không nhanh.
Trứng gà cũng chưa thật sự khỏe. Một số bảng giá công khai ghi nhận trứng gà quanh 1.900 – 2.400 đồng/quả, nhưng giá tại trại có thể phân hóa mạnh giữa miền Bắc và miền Nam. Với miền Nam, nếu giá tại trại chỉ quanh vùng thấp, người nuôi vẫn dễ lỗ do chi phí con giống, thức ăn, thuốc thú y và hao hụt đàn.
Thủy sản: cá tra và tôm còn đầu ra, nhưng giá nguyên liệu bớt nóng
Ở mảng cá tra, thị trường ĐBSCL đã hạ nhiệt so với giai đoạn đầu năm. VASEP từng ghi nhận đầu năm 2026, cá tra thương phẩm loại 0,8 – 1 kg/con tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ có lúc phổ biến khoảng 35.000 đồng/kg, cao hơn đáng kể so với các đợt tăng trước. Tuy nhiên, đến tháng 6, các bản tin thị trường cá tra cho thấy giá nguyên liệu tại An Giang, Cần Thơ có biến động tăng nhẹ theo ngày nhưng không còn ở trạng thái tăng nóng như đầu năm.
Yếu tố đáng chú ý là xuất khẩu cá tra chưa đồng đều. VASEP cho biết xuất khẩu cá tra sang Mỹ trong tháng 5/2026 tiếp tục giảm, trong khi Brazil và một số thị trường khác có tín hiệu tích cực hơn nhưng chưa đủ tạo lực kéo mạnh toàn ngành. Điều này khiến giá cá tra nguyên liệu khó tăng bền nếu nhu cầu từ Mỹ và EU không cải thiện rõ.
Với tôm, giá tôm thẻ ngày 23/6 ghi nhận phân hóa theo size. Giá tôm thẻ 60 con/kg quanh 107.000 đồng/kg, trong khi các size 70 – 100 con/kg dao động lớn, có loại giảm mạnh so với kỳ trước. Điều này phản ánh thị trường đang ưu tiên tôm cỡ đẹp, còn tôm cỡ trung – nhỏ chịu áp lực khi nguồn cung vào mùa thu hoạch và cạnh tranh xuất khẩu từ Ecuador, Ấn Độ vẫn gay gắt.
www.qdfeed.com
(tổng hợp từ internet)
