Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tình hình chăn nuôi tháng 3/2026 tiếp tục xu hướng của các tháng trước, trong đó, chăn nuôi lợn và gia cầm duy trì tăng trưởng, trong khi chăn nuôi trâu, bò vẫn gặp khó khăn và có xu hướng giảm.

Chăn nuôi lợn, gia cầm phát triển tốt

Chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn tiếp tục phục hồi và phát triển ổn định nhờ giá thịt lợn ở mức cao và dịch bệnh được kiểm soát, tạo điều kiện thuận lợi cho người chăn nuôi tái đàn. Tính đến cuối tháng 3/2026, tổng đàn lợn cả nước ước tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có đàn lợn tăng khá như Gia Lai tăng 8%; Lâm Đồng tăng 7,5%; Đồng Nai tăng 3,2%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,1%; Phú Thọ tăng 3,2%. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I/2026 ước đạt 1,44 triệu tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước.

Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển ổn định nhờ nhu cầu tiêu dùng duy trì ổn định và giá sản phẩm ở mức khá, giúp người chăn nuôi yên tâm tái đàn. Bên cạnh đó, nhờ áp dụng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học và liên kết chuỗi với các doanh nghiệp lớn, nhiều trang trại gia cầm quy mô lớn tiếp tục mở rộng sản xuất. Tổng đàn gia cầm cả nước tại thời điểm cuối tháng 3/2026 ước tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà tăng 3,8%. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng quý I/2026 ước đạt 660,8 nghìn tấn, tăng 5,8%; sản lượng trứng gia cầm đạt gần 5,46 tỷ quả, tăng 4,8%.

Chăn nuôi trâu, bò: Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục gặp khó khăn do hiệu quả kinh tế không cao, quy mô chăn nuôi có xu hướng thu hẹp, đồng thời việc tái đàn sau thiên tai cuối năm 2025 tại các tỉnh miền Trung gặp khó khăn. Tổng đàn trâu cả nước tại thời điểm cuối tháng 3/2026 ước giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước; tổng đàn bò giảm 1,9%. Mặc dù quy mô đàn giảm, việc cải thiện giống và áp dụng kỹ thuật chăn nuôi đã góp phần duy trì và nâng cao sản lượng, đáp ứng nhu cầu thị trường. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng quý I/2026 ước đạt 32,7 nghìn tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 137,7 nghìn tấn, tăng 2,1%; sản lượng sữa ước đạt 359,7 nghìn tấn, tăng 3,8%.

Dịch bệnh động vật trên cạn cơ bản được kiểm soát

Nhìn chung, trong tháng 3/2026, các bệnh nguy hiểm trên động vật trên cạn cơ bản được kiểm soát; các ổ dịch phát sinh chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ tại các hộ chăn nuôi chưa bảo đảm điều kiện an toàn sinh học và tiêm phòng chưa đầy đủ. Cụ thể tình hình dịch bệnh như sau:

Về bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng 3/2026, cả nước phát sinh 36 ổ dịch tại 18 tỉnh, thành phố với 773 con lợn chết, buộc tiêu hủy. Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 3/2026, cả nước xảy ra 317 ổ dịch tại 25 tỉnh, thành phố với tổng số lợn chết và bị buộc tiêu hủy là 18.737 con. Tại thời điểm ngày 20/3/2026, cả nước còn 82 ổ dịch tại 21 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày.

Về bệnh Cúm gia cầm: Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 3/2026, cả nước xảy ra 12 ổ dịch tại 7 tỉnh, thành phố với 50.821 con gia cầm chết, bị buộc tiêu hủy. Tại thời điểm ngày 20/3/2026, cả nước còn 4 ổ dịch tại 4 tỉnh chưa qua 21 ngày.

 Về bệnh Dại động vật: Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 3/2026, cả nước ghi nhận 51 ổ dịch tại 47 xã thuộc 14 tỉnh. Tại thời điểm ngày 20/3/2026, cả nước còn 17 ổ dịch tại 9 tỉnh chưa qua 21 ngày. Về bệnh Viêm da nổi cục: Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 3/2026, cả nước xảy ra 17 ổ dịch tại 4 tỉnh với 52 con gia súc mắc bệnh, trong đó 26 con chết và bị buộc tiêu hủy. Tại thời điểm ngày 20/3/2026, cả nước còn 8 ổ dịch tại Đà Nẵng và Quảng Ngãi chưa qua 21 ngày.

Về bệnh Lở mồm long móng: Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 3/2026, cả nước xảy ra 2 ổ dịch tại Cao Bằng và Đồng Tháp với 41 con gia súc mắc bệnh, trong đó 8 con bị buộc tiêu hủy. Tại thời điểm ngày 20/3/2026, cả nước còn 1 ổ dịch tại Đồng Tháp chưa qua 21 ngày.

Về giá các sản phẩm chăn nuôi và thức ăn chăn nuôi có biến động

Thịt lợn: Giá thu mua lợn hơi trong nước biến động giảm trong tháng 3/2026. So với tháng 2/2026, giá lợn hơi tại miền Bắc giảm 7.500 đồng/kg xuống còn 62.000 – 63.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Trung – Tây Nguyên giảm 5.900 đồng/kg, dao động trong khoảng 61.000 – 68.000 đồng/kg. Giá lợn hơi miền Nam giảm 2.500 đồng/kg, hiện đang ở mức 67.000 – 69.000 đồng/kg. Giá lợn hơi giảm do nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu tiêu thụ chưa khởi sắc

 Thịt gà: Giá thu mua gà thịt lông màu biến động giảm tại ba miền. Giá gà thịt lông màu miền Bắc giảm 4.000 đồng/kg xuống mức 54.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Trung giảm 2.200 đồng/kg, hiện ở mức 47.000 đồng/kg. Giá gà thịt lông màu miền Nam giảm 2.700 đồng/kg xuống còn 46.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp biến động giảm tại ba miền. Giá gà công nghiệp miền Bắc giảm 10.000 đồng/kg xuống 30.000 đồng/kg. Giá gà công nghiệp miền Trung giảm 8.000 đồng/kg xuống mức 22.000 đồng/kg Giá gà công nghiệp miền Nam giảm 2.000 đồng/kg, hiện là 26.000 đồng/kg. Giá gà giảm tại ba miền do nguồn cung dồi dào trong khi sức mua chậm. Giá thu mua trứng gà biến động tăng tại ba miền.

Giá trứng gà miền Bắc tăng 500 đồng/quả lên 1.800 đồng/quả. Giá trứng gà miền Trung tăng 210 đồng/quả, hiện ở mức 1.840 đồng/quả. Giá trứng gà miền Nam tăng 160 đồng/quả lên 1.530 đồng/quả.

Giá thức ăn chăn nuôi đã tăng từ 2-3 lần từ đầu năm tới nay

Thức ăn chăn nuôi: Từ đầu năm 2026, do tình hình nguyên liệu tăng cao và biến động, nhiều Công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi đã điều chỉnh tăng giá bán nhằm cung cấp sản phẩm tốt nhất cho người chăn nuôi bắt đầu từ ngày 01/01/2026, mức tăng từ 100 – 300 đồng/kg thức ăn chăn nuôi cho gia súc và gia cầm.

Đầu tháng 3/2026, khi căng thẳng Trung Đông xảy ra và chưa có dấu hiệu chấm dứt đã khiến giá nhiên liệu tăng kéo theo chi phí vận chuyển cũng tăng theo đẩy giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm trong nước tăng. Tại An Giang, giá nhiều loại thức ăn dành cho gia súc, gia cầm đã được điều chỉnh tăng do chi phí vận chuyển tăng và do giá nguyên liệu đầu vào trên thị trường thế giới như ngô, đậu tương, lúa mì tăng trong khi Việt Nam vẫn phải nhập khẩu phần lớn nguồn nguyên liệu này. Tùy loại và thương hiệu, giá tăng khoảng 7.000 – 12.000 đồng/bao (25 – 40 kg). Hiện thức ăn cho lợn con có giá khoảng 480.000 đồng/bao (25 kg); thức ăn cho lợn thịt giai đoạn 14 – 30 kg dao động 360.000 – 370.000 đồng/bao. Một số loại thức ăn cho gia súc khác ở mức 330.000 – 350.000 đồng/bao, trong khi thức ăn cho gia cầm phổ biến 260.000 – 370.000 đồng/bao (25 kg).

Dự báo nếu xung đột kết thúc trong tháng 3/2026 và eo Hormuz được khai thông trở lại, giá nhập khẩu nguyên liệu sẽ giảm dần, chi phí thức ăn chăn nuôi có thể giảm khoảng 3 – 5%, thị trường có thể sớm ổn định. Nếu xung đột kéo dài hơn, eo Hormuz tiếp tục bị phong tỏa, giá thức ăn chăn nuôi có thể sẽ tăng.

Đối với thị trường sản phẩm chăn nuôi thế giới: Trong tháng 3/2026, giá thịt lợn kỳ hạn tháng 4/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá thịt lợn) biến động giảm với mức giảm 4,95 US cent/lb xuống còn 90,775 US cent/lb. Giá thịt lợn giảm do số lượng thịt lợn tồn kho và số lượng lợn giết mổ tăng so với cùng kỳ năm ngoái. Trong tháng 3/2026, giá bò hơi kỳ hạn tháng 4/2026 giao dịch trên sàn CME (sau đây gọi tắt là giá bò hơi) tăng 6,275 US cent/lb lên 238,5 US cent/lb. Giá bò hơi tăng do số lượng bò giết mổ giảm so với cùng kỳ năm ngoái.

Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tháng 3 năm 2026 ước đạt 73,9 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 3 tháng đầu năm 2026 đạt 197,7 triệu USD, tăng 54,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 52,5 triệu USD, tăng 2,6 lần; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 56,4 triệu USD, tăng 24,5%.

Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi là những mặt hàng nhập khẩu nhiều

Nhập khẩu một số mặt hàng chính

Đậu tương: Khối lượng nhập khẩu đậu tương tháng 3 năm 2026 ước đạt 240 nghìn tấn với giá trị đạt 116,9 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 3 tháng đầu năm 2026 đạt 847,1 nghìn tấn và 404,9 triệu USD, tăng 46,9% về khối lượng và tăng 54,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá đậu tương nhập khẩu bình quân 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 478 USD/tấn, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2025.

Việt Nam chủ yếu nhập khẩu đậu tương từ 2 thị trường Hoa Kỳ và Braxin với tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ 2 thị trường này lần lượt là 68% và 23,7%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu đậu tương 2 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Hoa Kỳ tăng 39,4%.

Lúa mì: Khối lượng nhập khẩu lúa mì tháng 3 năm 2026 ước đạt 1,3 triệu tấn với giá trị đạt 158,1 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu lúa mì 3 tháng đầu năm 2026 đạt 3 triệu tấn và 603,8 triệu USD, tăng 84,5% về khối lượng và tăng 40,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá lúa mì nhập khẩu bình quân 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 201 USD/tấn, giảm 23,9% so với cùng kỳ năm 2025. Nguồn cung cấp lúa mì chính của Việt Nam là từ các thị trường Ôxtrâylia, Braxin, Canađa, và Hoa Kỳ với thị phần lần lượt là 18,5%, 17,1%, 7,4%, và 6,1%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu lúa mì 2 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Ôxtrâylia tăng 57,7%, thị trường Canađa tăng 87%, thị trường Hoa Kỳ tăng 4,9 lần, trong khi thị trường Braxin giảm 45,5%.

 Ngô: Khối lượng nhập khẩu ngô tháng 3 năm 2026 ước đạt 1,4 triệu tấn với giá trị đạt 347,9 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 3 tháng đầu năm 2026 đạt 4,1 triệu tấn và 1 tỷ USD, tăng 90,2% về khối lượng và tăng 83,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá ngô nhập khẩu bình quân 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 247,6 USD/tấn, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm 2025. Braxin và Áchentina là 2 thị trường cung cấp ngô chính cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 65,1% và 13,4%. So với cùng kỳ năm trước, giá trị nhập khẩu ngô 2 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Braxin tăng 88,1% và thị trường Áchentina giảm 36,1%.

Nguồn thông tin: Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường)
Hà Ngân (nhachannuoi.vn)