Thị trường ngũ cốc Mỹ ghi nhận diễn biến trái chiều trong phiên giao dịch thứ Năm, khi lực mua kỹ thuật đóng vai trò dẫn dắt trong bối cảnh dữ liệu xuất khẩu nhìn chung tích cực. Giá đậu nành và lúa mì tăng, trong khi bắp biến động nhẹ quanh tham chiếu sau khi phục hồi vào cuối phiên.
Đậu nành: Giữ đà tăng nhờ xuất khẩu và kỳ vọng chính sách
Giá đậu nành duy trì mức tăng nhẹ bất chấp phiên giao dịch nhiều biến động, nhờ lực mua kỹ thuật và số liệu xuất khẩu khả quan hơn thông thường. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 5 tăng 2 cent lên 11,7375 USD/giạ, trong khi kỳ hạn tháng 7 tăng 1,75 cent lên 11,8950 USD/giạ.
USDA cho biết lượng xuất khẩu đậu nành niên vụ 2025–2026 đạt 24,6 triệu giạ (≈ 668.900 tấn), cùng với 1 triệu giạ (≈ 27.000 tấn) cho niên vụ 2026–2027. Lượng giao hàng đạt 49,4 triệu giạ (≈ 1,34 triệu tấn), vượt xa mức cần thiết 21,6 triệu giạ/tuần (≈ 587.000 tấn) để đạt mục tiêu 1,575 tỷ giạ (≈ 42,8 triệu tấn). Tuy nhiên, tổng cam kết xuất khẩu hiện đạt 1,369 tỷ giạ (≈ 37,3 triệu tấn), vẫn thấp hơn 18% so với cùng kỳ năm trước và chậm hơn tiến độ kỳ vọng của USDA, trong bối cảnh tồn kho cuối vụ của Mỹ được dự báo cao hơn 20% so với trung bình 5 năm.
Ở các sản phẩm phụ, lượng xuất khẩu khô đậu nành đạt 507.600 tấn cho niên vụ 2025–2026 và 121.600 tấn cho niên vụ 2026–2027, trong khi dầu đậu nành đạt 800 tấn, toàn bộ cho niên vụ hiện tại.
Thị trường cũng theo dõi sát động thái của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) liên quan đến hạn ngạch nhiên liệu sinh học (RVO), dự kiến công bố trong tuần, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu dầu đậu nành.
Trước báo cáo diện tích gieo trồng của USDA, giới phân tích dự báo diện tích đậu nành đạt khoảng 85,6 triệu mẫu (≈ 34,63 triệu ha), tăng nhẹ so với các ước tính trước đó. Tồn kho ngày 1/3 được dự đoán ở mức 2,063 tỷ giạ (≈ 56,1 triệu tấn), tăng 152 triệu giạ (≈ 4,14 triệu tấn) so với năm trước.
Bắp: Giằng co trong phiên, xuất khẩu tiếp tục hỗ trợ
Giá bắp biến động nhẹ khi thị trường giảm đầu phiên nhưng phục hồi nhờ lực mua kỹ thuật cuối ngày. Giá bắp kỳ hạn tháng 5 giảm nhẹ 0,25 cent xuống 4,67 USD/giạ, trong khi kỳ hạn tháng 7 tăng 0,25 cent lên 4,78 USD/giạ.
Lượng xuất khẩu bắp niên vụ 2025–2026 đạt 47,9 triệu giạ (≈ 1,22 triệu tấn), cùng với 5,3 triệu giạ (≈ 135.000 tấn) cho niên vụ 2026–2027. Lượng giao hàng đạt 66,1 triệu giạ, vượt mức cần thiết 64,7 triệu giạ/tuần để đạt mục tiêu 3,3 tỷ giạ (≈ 83,8 triệu tấn). Tổng cam kết xuất khẩu đạt 2,712 tỷ giạ (≈ 68,9 triệu tấn), tăng 30% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục là yếu tố hỗ trợ chính cho thị trường, dù tồn kho cuối vụ của Mỹ vẫn được dự báo cao hơn 46% so với trung bình 5 năm.
Ở mảng năng lượng, sản lượng ethanol trong tuần kết thúc ngày 20/3 tăng lên 1,116 triệu thùng/ngày (≈ 177.600 m³/ngày), tăng 23.000 thùng/ngày (≈ 3.700 m³/ngày). Tồn kho tăng lên 27,17 triệu thùng (≈ 4,32 triệu m³), trong khi xuất khẩu giảm và nhu cầu từ nhà máy lọc dầu tăng nhẹ.
Trước báo cáo USDA, thị trường kỳ vọng diện tích trồng bắp đạt 94,4 triệu mẫu (≈ 38,21 triệu ha), với tồn kho ngày 1/3 ở mức 9,036 tỷ giạ (≈ 229,6 triệu tấn), tăng mạnh so với năm trước.
Ngoài ra, Đài Loan đã mua 65.000 tấn bắp Mỹ trong một phiên đấu thầu gần đây.
Lúa mì: Tăng mạnh nhờ thời tiết và yếu tố địa chính trị
Giá lúa mì ghi nhận phiên tăng mạnh nhất trong ba nhóm, với một số hợp đồng tăng gần 1,5% nhờ lực mua kỹ thuật. Giá lúa mì SRW Chicago kỳ hạn tháng 5 tăng 7,25 cent lên 6,05 USD/giạ, trong khi lúa HRW Kansas tăng 9 cent lên 6,2675 USD/giạ..
Thị trường được hỗ trợ bởi lo ngại về căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông, giá dầu tăng, cùng với điều kiện khô hạn tại khu vực Đồng bằng phía Nam nước Mỹ, có thể khiến chất lượng cây trồng suy giảm. Đồng thời, chi phí phân bón gia tăng cũng góp phần nâng giá.
Về xuất khẩu, lượng xuất bán lúa mì niên vụ 2025–2026 đạt 14,6 triệu giạ (≈ 397.200 tấn), trong khi niên vụ 2026–2027 đạt 7,6 triệu giạ (≈ 205.800 tấn). Tuy nhiên, lượng giao hàng chỉ đạt 14,1 triệu giạ, thấp hơn mức cần thiết 17,9 triệu giạ/tuần để đạt mục tiêu 900 triệu giạ (≈ 24,5 triệu tấn). Tổng cam kết xuất khẩu đạt 885 triệu giạ (≈ 24,1 triệu tấn), tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, dù tồn kho cuối vụ của Mỹ vẫn được dự báo cao hơn 28% so với trung bình 5 năm.
Trước báo cáo USDA, giới phân tích dự báo tổng diện tích trồng lúa mì đạt 44,8 triệu mẫu (≈ 18,13 triệu ha), trong đó lúa mì vụ đông khoảng 32,7 triệu mẫu (≈ 13,23 triệu ha) và lúa mì xuân khoảng 9,8 triệu mẫu (≈ 3,97 triệu ha). Tồn kho ngày 1/3 ước đạt 1,295 tỷ giạ (≈ 35,2 triệu tấn).
Trên thị trường quốc tế, giá lúa mì cứng Nga được chào bán thấp hơn khoảng 1 USD/tấn so với lúa mì vụ đông cứng của Mỹ. Trong khi đó, Kazakhstan đã cấm nhập khẩu lúa mì làm thức ăn chăn nuôi từ Nga, nhưng vẫn cho phép nhập khẩu lúa mì thực phẩm; kể từ tháng 9/2025, nước này đã nhập khoảng 0,9 triệu tấn lúa mì từ Nga.
www.qdfeed.com
