Thị trường ngũ cốc CBOT tiếp tục suy yếu trong phiên 08/10 khi nhà đầu tư giảm vị thế trước báo cáo cung cầu tháng 10 của USDA, dự kiến công bố ngày 09/10. Bắp và đậu nành giảm phiên thứ hai liên tiếp, trong khi lúa mì tiếp tục chịu áp lực từ nguồn cung dồi dào và nhu cầu xuất khẩu chưa đủ mạnh. Đồng USD duy trì ở vùng cao nhất trong khoảng 18 tháng, góp phần gây sức ép lên hàng hóa.
BẮP: Xuất khẩu tốt nhưng thị trường chờ USDA điều chỉnh sản lượng
Giá bắp tiếp tục giảm trong phiên 08/10 khi lực mua không duy trì được sau nhịp phục hồi đầu tuần. Giá bắp kỳ hạn tháng 12 giảm 1,75 cent, đóng cửa ở 5,0025 USD/bushel, trong khi kỳ hạn tháng 3/2027 giảm 1,75 cent xuống 5,1525 USD/bushel.
Trước báo cáo WASDE, thị trường dự báo năng suất bắp Mỹ sẽ giảm nhẹ. Khảo sát của Reuters đưa mức năng suất dự kiến xuống khoảng 177,7 bushel/acre, từ 177,8 bushel/acre trong tháng 9. Sản lượng theo ước tính này vào khoảng 15,721 tỷ bushel (399,3 triệu tấn). Trong khi đó, Bloomberg ghi nhận dự báo năng suất khoảng 177,8 bushel/acre và sản lượng 15,733 tỷ bushel (399,6 triệu tấn). Allendale đưa ra dự báo sản lượng khoảng 15,7 tỷ bushel (398,8 triệu tấn).
Đối với tồn kho cuối kỳ niên vụ 2026/27, Allendale dự báo 1,76 tỷ bushel (44,7 triệu tấn), cao hơn đáng kể mức 1,56 tỷ bushel (39,6 triệu tấn) mà USDA đưa ra trong tháng 9. Đây là yếu tố khiến thị trường thận trọng: dù năng suất có thể giảm, mức điều chỉnh sản lượng chưa chắc đủ để làm thay đổi đáng kể triển vọng nguồn cung.
Về xuất khẩu, USDA ghi nhận doanh số bán bắp niên vụ 2026/27 tăng thêm 30,3 triệu bushel (769.500 tấn) trong tuần kết thúc ngày 01/10; doanh số niên vụ 2027/28 tăng thêm 0,9 triệu bushel (22.400 tấn). Tổng doanh số bán kết hợp của các niên vụ đạt 31,2 triệu bushel, tăng 44% so với tuần trước và cao hơn 28% so với bình quân bốn tuần, dù vẫn nằm ở nửa thấp của vùng dự báo thị trường. Lượng giao hàng đạt 62,9 triệu bushel (1,60 triệu tấn), nhỉnh hơn mức 62,6 triệu bushel mỗi tuần cần thiết để đạt mục tiêu xuất khẩu 3,275 tỷ bushel (83,19 triệu tấn) của USDA. Tuy nhiên, tổng cam kết xuất khẩu mới đạt 769 triệu bushel (19,53 triệu tấn), giảm 34% so với cùng kỳ năm trước và vẫn thấp hơn tiến độ cần thiết theo dự báo của USDA.
Nhu cầu sử dụng bắp cho ethanol tiếp tục là điểm hỗ trợ. Sản lượng ethanol Mỹ trong tuần kết thúc ngày 02/10 đạt 1,053 triệu thùng/ngày, tăng 46.000 thùng/ngày so với tuần trước. Tồn kho giảm 122.000 thùng, xuống 23,743 triệu thùng.
Trên thị trường quốc tế, các nhà nhập khẩu Hàn Quốc đã mua tổng cộng 324.000 tấn bắp thông qua các cuộc đấu thầu qua đêm. Xuất khẩu bắp Brazil trong tháng 9 đạt 5,21 triệu tấn, tăng gần 12% so với tháng 8 nhưng thấp hơn 31,1% so với cùng kỳ năm trước.
ĐẬU NÀNH: Giao hàng mạnh nhưng doanh số bán gây thất vọng
Đậu nành tiếp tục giảm trong phiên 08/10 khi lo ngại về quan hệ thương mại Mỹ–Trung Quốc và kỳ vọng tiến độ thu hoạch tăng tốc gây áp lực lên giá. Giá đậu nành kỳ hạn tháng 11 giảm 5,5 cent xuống 12,975 USD/bushel, còn kỳ hạn tháng 1/2027 giảm 10,25 cent xuống 13,0425 USD/bushel.
Khác với đậu nành, các sản phẩm chế biến diễn biến trái chiều. Giá khô dầu đậu nành kỳ hạn tháng 12 giảm 2,24%, trong khi dầu đậu nành tháng 12 tăng nhẹ 0,35%, được hỗ trợ bởi giá dầu thô tăng.
Báo cáo xuất khẩu hàng tuần của USDA cho thấy doanh số bán đậu nành niên vụ 2026/27 tăng thêm 20,2 triệu bushel (549.400 tấn) trong tuần kết thúc ngày 01/10. Kết quả này nằm ở nửa thấp của vùng dự báo 16,5–44,1 triệu bushel và thấp hơn 34% so với bình quân bốn tuần đối với doanh số bán vụ cũ. Ngược lại, lượng giao hàng đạt 50,7 triệu bushel (1,38 triệu tấn), tăng 40% so với tuần trước và cao hơn mức 33 triệu bushel mỗi tuần cần thiết để đạt mục tiêu xuất khẩu 1,685 tỷ bushel (45,86 triệu tấn) của USDA. Tổng cam kết xuất khẩu đạt 837 triệu bushel (22,78 triệu tấn), tăng 80% so với cùng kỳ năm trước và đang chạy trước tiến độ dự kiến.
Sự phân hóa giữa doanh số bán mới và lượng giao hàng cho thấy nhu cầu thực hiện các hợp đồng đã ký vẫn khá tốt, nhưng khả năng thu hút thêm đơn hàng mới cần được theo dõi sát. Lo ngại về việc Trung Quốc chưa đưa ra tín hiệu mua hàng đủ mạnh tiếp tục hạn chế tâm lý thị trường.
Trước WASDE, khảo sát của Bloomberg dự báo năng suất đậu nành Mỹ có thể tăng nhẹ lên 52,9 bushel/acre, với sản lượng khoảng 4,538 tỷ bushel (123,5 triệu tấn). Allendale dự báo sản lượng khoảng 4,54 tỷ bushel (123,6 triệu tấn), gần mức 4,53 tỷ bushel của USDA trong tháng 9. Tuy nhiên, tồn kho cuối kỳ theo Allendale có thể tăng lên 307 triệu bushel (8,35 triệu tấn), cao hơn dự báo 300 triệu bushel (8,16 triệu tấn) của USDA tháng trước.
Dữ liệu Census cho thấy xuất khẩu đậu nành Mỹ trong tháng 8 chỉ đạt 1,465 triệu tấn, giảm 22,5% so với tháng 7 và giảm 36,1% so với cùng kỳ năm trước. Trái lại, xuất khẩu khô dầu đậu nành đạt kỷ lục 1,366 triệu tấn, cho thấy nhu cầu đối với sản phẩm chế biến vẫn mạnh hơn đáng kể so với đậu nành nguyên hạt.
Tại Brazil, xuất khẩu đậu nành tháng 9 đạt 7,36 triệu tấn, giảm 25% so với tháng 8 nhưng tăng nhẹ 0,24% so với cùng kỳ năm trước. Đây vẫn là nguồn cung cạnh tranh lớn đối với đậu nành Mỹ trong giai đoạn đầu niên vụ.
Khô dầu đậu nành là điểm khác biệt đáng chú ý trong phức hợp đậu nành những phiên gần đây. Dữ liệu Census tháng 8 ghi nhận xuất khẩu đạt kỷ lục 1,366 triệu tấn. Báo cáo xuất khẩu hàng tuần mới nhất cũng ghi nhận doanh số bán khô dầu đậu nành đạt 861.900 tấn cho niên vụ 2025/26 và 1.047.600 tấn cho niên vụ 2026/27.
Trước đó, hợp đồng khô dầu đậu nành tháng 12 đã tăng mạnh khoảng 11 USD/short ton, vượt hợp đồng tháng 1/2027 khoảng 1,60 USD/short ton, đẩy spread ZMZ26/ZMF27 lên inverse khoảng +1,20 USD/short ton. Tín hiệu này được cho là chủ yếu đến từ lực mua thương mại, phản ánh nhu cầu giao hàng gần tương đối vững và khả năng nguồn cung hàng thực ngắn hạn đang thắt chặt.
Tuy nhiên, trong phiên 08/10, giá khô dầu đậu nành tháng 12 đã giảm 2,24%. Điều này cho thấy tín hiệu tích cực từ spread và xuất khẩu chưa đủ để giúp giá miễn nhiễm với hoạt động chốt lời và tâm lý thận trọng trước WASDE. Cần theo dõi xem trạng thái inverse có được duy trì hay không, bởi diễn biến spread sẽ cung cấp thêm thông tin về cân bằng cung cầu kỳ hạn gần.
LÚA MÌ: Xuất khẩu cải thiện nhưng lượng giao hàng vẫn yếu
Lúa mì tiếp tục giảm trong phiên 08/10 sau khi không giữ được mức tăng đầu phiên. Giá lúa mì Chicago kỳ hạn tháng 12 giảm 3,25 cent xuống 6,8325 USD/bushel, trong khi giá lúa mì Kansas City cùng kỳ hạn giảm 2,25 cent xuống 7,3625 USD/bushel.
Trước WASDE, thị trường dự báo tồn kho lúa mì Mỹ cuối niên vụ 2026/27 có thể tăng nhẹ. Khảo sát Bloomberg đưa mức tồn kho lên 721 triệu bushel (19,62 triệu tấn), tăng 4 triệu bushel so với dự báo trước đó. Allendale dự báo tồn kho cao hơn, ở mức 739 triệu bushel (20,11 triệu tấn), so với 717 triệu bushel (19,51 triệu tấn) trong ước tính tháng 9 của USDA.
Về xuất khẩu, USDA ghi nhận doanh số bán lúa mì tăng thêm 16,6 triệu bushel (451.600 tấn) trong tuần kết thúc ngày 01/10, tăng 56% so với tuần trước và cao hơn 68% so với bình quân bốn tuần. Đây là kết quả tích cực, nằm ở nửa cao của vùng dự báo thị trường. Tuy nhiên, lượng giao hàng chỉ đạt 8 triệu bushel (217.700 tấn), thấp hơn nhiều so với mức 15,2 triệu bushel mỗi tuần cần thiết để đạt mục tiêu xuất khẩu 775 triệu bushel (21,09 triệu tấn). Tổng cam kết xuất khẩu đạt 371 triệu bushel (10,10 triệu tấn), giảm 32% so với cùng kỳ năm trước và vẫn thấp hơn tiến độ USDA dự kiến.
Nhu cầu từ châu Á cũng có dấu hiệu chững lại. Theo nguồn tin thị trường, một số khách hàng tại Đông Nam Á và Nam Á không có kế hoạch mua thêm nguồn cung cho thời gian sau tháng 12 do giá lúa mì tăng cao. Diễn biến này đáng chú ý bởi Đông Nam Á là một trong những khu vực nhập khẩu lúa mì lớn và thường mua trước nguồn cung cho nhiều tháng.
Dù vậy, nhu cầu đấu thầu vẫn hiện diện. Một nhà máy bột mì Đài Loan đã mua 105.800 tấn lúa mì Mỹ. Philippines đang tìm mua 370.000 tấn lúa mì thức ăn chăn nuôi, trong khi Thái Lan đấu thầu 60.000 tấn cùng loại.
www.qdfeed.com
